Triệu chứng của bệnh giang mai

Triệu chứng của bệnh giang mai

3573
Chia Sẻ
bệnh giang mai

Bệnh giang mai phát triển ở bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn có các triệu chứng khác nhau.

Giai đoạn đầu tiên

Trong giai đoạn đầu của bệnh giang mai, chỗ lở loét (săng) phát triển ở khu vực vi khuẩn đi vào cơ thể thường không gây đau đớn. Giai đoạn này thường xảy ra trong vòng 3 tuần tiếp xúc với bệnh nhưng có thể dao động từ 10 đến 90 ngày. Trong giai đoạn này, người mắc bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao sang cho người khác.

  • Ở nam giới, vết săng (chancre) thường xuất hiện ở bộ phận sinh dục, thường (nhưng không phải luôn luôn) trên dương vật. Những vết loét thường không gây đau đớn.
  • Ở phụ nữ, săng (chancre) có thể phát triển ở bộ phận sinh dục bên ngoài hoặc trên phần bên trong của âm đạo. Phụ nữ thường không chú ý đến săng nếu nó xuất hiện bên trong âm đạo hoặc tại chỗ đầu tử cung (cổ tử cung). Các vết loét thường không gây đau đớn và không dễ dàng nhìn thấy.
  • Hạch bạch huyết có thể sưng lên gần khu vực của săng.
  • Săng có thể xuất hiện trong một khu vực khác của cơ thể mà không phải bộ phận sinh dục.

Các săng xuất hiện trong khỏng 3-6 tuần, được chữa lành mà không cần điều trị và có thể để lại một vết sẹo mỏng. Nhưng mặc dù săng đã lành, bệnh giang mai vẫn còn tồn tại và một người vẫn có thể truyền bệnh cho người khác

Giai đoạn thứ hai

Bệnh giang mai ở giai đoạn thứ hai có dấu hiệu đặc trưng bởi phát ban xuất hiện từ 2 đến 12 tuần sau khi săng phát triển và đôi khi trước khi vết săng lành. Các triệu chứng khác cũng có thể xuất hiện, báo hiệu cho việc bệnh giang mai đã lan rộng khắp cơ thể. Người bệnh rất dễ lây nhiễm bệnh giang mai cho người khác trong giai đoạn thứ hai.

Phát ban thường phát triển trên cơ thể ở lòng bàn tay và lòng bàn chân.

  • Vết phát ban thường bao gồm màu nâu đỏ, nhỏ, cứng, phẳng hoặc lồi lên lở loét trên da ít hơn 2 cm (0,8 in.). Tuy nhiên, phát ban có thể trông giống như các vấn đề về da phổ biến khác.
  • Vết thương nhỏ và hở có thể có trên màng nhầy. Các vết loét có thể chứa mủ, hoặc lở loét ẩm trông giống như mụn cóc (gọi là Condyloma lata).
  • Những người da đen thì các vết loét có màu nhạt hơn so với vùng da xung quanh.

Phát ban da thường được tự chữa lành trong vòng 2 tháng mà không để lại sẹo. Sau khi lành bệnh, da của bạn vẫn có thể bị đổi màu. Mặc dù các phát ban da đã lành, bệnh giang mai vẫn còn hiện diện và bạn vẫn có thể truyền bệnh cho người khác.

Khi bệnh giang mai đã lan rộng khắp cơ thể, người bệnh có thể có:

  • Nhiệt độ sốt thấp hơn 101 ° F (38,3 ° C).
  • Đau họng.
  • Cảm giác mệt mỏi mơ hồ hoặc khó chịu khắp cơ thể.
  • Giảm cân.
  • Rụng nhiều lông, đặc biệt là trong lông mày, lông mi, tóc và da đầu.
  • Sưng hạch bạch huyết.
  • Triệu chứng hệ thần kinh của bệnh giang mai giai đoạn hai có thể bao gồm cứng cổ, nhức đầu, khó chịu, tê liệt, phản xạ bất bình thường, và hình dạng con ngươi bất bình thường.

Giai đoạn tiềm ẩn

Nếu không được điều trị, người bệnh sẽ bị chuyển sang giai đoạn tiềm ẩn của bệnh giang mai. Giai đoạn tiềm ẩn được định nghĩa là khoảng một năm sau khi một người bị nhiễm bệnh giang mai. Sau khi vết phát ban của giai đoạn thứ hai không còn nữa, người bị bệnh sẽ không có bất kỳ triệu chứng trong một thời gian (thời gian tiềm ẩn). Thời gian bệnh tiềm ẩn có thể diễn ra trong vòng 1 năm hay hoặc từ 5 đến 20 năm.

Thông thường trong giai đoạn này, bác sĩ chỉ có thể chẩn đoán bệnh chính xác khi thực hiện xét nghiệm máu, thông qua bệnh án hoặc người này có mắc bệnh giang mai bẩm sinh hay không.
Một người có thể lây bệnh trong thời kỳ đầu của giai đoạn tiềm ẩn và có thể lây cho người khác ngay trong giai đoạn tiềm ẩn, kể cả khi không xuất hiện triệu chứng.

Tái phát

Có khoảng từ 20 đến 30 trên tổng số 100 người mắc bệnh giang mai có triệu chứng tái phát khi bị nhiễm bệnh ở giai đoạn tiềm ẩn. Tái phát có nghĩa là người mắc bệnh lúc đầu không có triệu chứng nhưng sau đó các triệu chứng lại bắt đầu xuất hiện lần nữa. Tái phát có thể xảy ra nhiều lần.

Khi một người không tái phát bệnh, người này sẽ không lây bệnh cho người khác nếu bộ phận sinh dục tiếp xúc với nhau. Nhưng một người phụ nữ đang trong giai đoạn tiềm ẩn của bệnh giang mai vẫn có thể truyền bệnh cho em bé. Người phụ nữ này có thể bị sẩy thai, thai chết lưu hoặc sinh ra em bé bị nhiễm giang mai bẩm sinh.

Giai đoạn thứ ba (giai đoạn cuối)

Đây là giai đoạn mà bệnh giang mai phá hoại cơ thể nhất. Nếu không được điều trị, giai đoạn thứ ba có thể bắt đầu sớm nhất là một năm sau khi bị nhiễm bệnh hoặc bất cứ lúc nào trong suốt cuộc đời của một người. Một người mắc bệnh giang mai có thể sẽ không bao giờ trải qua giai đoạn này.

Trong giai đoạn này, bệnh giang mai có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng đến mạch máu và về tim mạch, rối loạn tâm thần, mù, vấn đề hệ thống thần kinh, và thậm chí tử vong. Các triệu chứng của giai đoạn thứ ba (cuối) của bệnh giang mai phụ thuộc vào các biến chứng mà bệnh phát triển. Các biến chứng của giai đoạn này bao gồm:

  • Gummata, đó là vết thương lở loét lớn bên trong cơ thể hoặc trên da.
  • Bệnh giang mai tim mạch, ảnh hưởng đến tim và các mạch máu.
  • Giang mai thần kinh, ảnh hưởng tới hệ thần kinh.

Giang mai bẩm sinh

Giang mai bẩm sinh liên quan đến bệnh giang mai lây truyền từ mẹ sang con trong khi mang thai hoặc trong quá trình trở dạ và sinh con. Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC) và dịch vụ dự phòng Hoa Kỳ Task Force khuyến cáo tất cả phụ nữ mang thai nên đi khám giang mai vì hậu quả nghiêm trọng của việc có thai trong khi bị nhiễm bệnh hoặc trẻ sinh ra mắc bệnh giang mai bẩm sinh. Giai đoạn kiểm tra nên được thực hiện:

  • Tại lần khám tiền sản đầu tiên cho tất cả các phụ nữ mang thai.
  • Vào ba tháng cuối của thời kỳ mang thai và một lần nữa lúc sắp sinh cho những phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh giang mai cao.

Giang mai bẩm sinh làm tăng nguy cơ bào thai chết và trẻ sơ sinh bị biến chứng. Bệnh giang mai xâm nhập vào hệ thống máu thai nhi thông qua nhau thai, làm cho trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh hoặc khiến cho thai nhi tử vong. Các triệu chứng của bệnh giang mai bẩm sinh bao gồm:

  • Chảy nước mũi nhiều.
  • Viêm gây đau đớn.
  • Vết phát ban lây nhiễm thường xuyên xuất hiện trên lòng bàn tay và lòng bàn chân.
  • Tế bào hồng cầu giảm trong máu (thiếu máu).
  • Gan và lá lách sưng to.
  • Sưng hạch bạch huyết.
  • Em bé không phát triển và phát triển không bình thường.

Nếu có những dấu hiện khác tương tự với triệu chứng ở trên, hãy đến bác sĩ khám để được chẩn đoán chính xác và điều trị.