Những điều cơ bản về Ung Thư Vú

Những điều cơ bản về Ung Thư Vú

2657
Chia Sẻ
Ung thư vú

Ung thư vú là gì?

Trước khi nói về bệnh ung thư vú, điều quan trọng là phải biết về giải phẫu ngực. Ngực bình thường bao gồm các tuyến sản xuất sữa được kết nối với bề mặt da ở đầu vú bằng ống hẹp. Các tuyến và ống dẫn được hỗ trợ bở

i mô liên kết, được tạo thành từ chất béo và chất xơ. Mạch máu, dây thần kinh và các kênh bạch huyết đến hạch bạch huyết tạo nên hầu hết các phần còn lại của mô vú. Giải phẫu ngực nằm dưới da và trên đầu của các cơ ngực.

Như trong tất cả các loại ung thư, mô bất thường tạo nên tế bào ung thư vú là tế bào của chính bệnh nhân đó nhân lên không kiểm soát được. Những tế bào này có thể di chuyển đến các nơi khác trong cơ thể mà chúng khó bị tìm thấy. Khi điều này xảy ra, bệnh ung thư được gọi là di căn.

Ung thư vú phát triển trong mô vú, chủ yếu trong các ống dẫn sữa (ung thư biểu mô ống động mạch) hoặc tuyến (carcinoma tiểu thùy). Sau khi tế bào di chuyển đến các khu vực khác trong cơ thể, chúng vẫn được gọi là ung thư vú và được điều trị ngay trong lần đầu tiên phát hiện. Trong những trường hợp này, bệnh ung thư được gọi là ung thư vú di căn hoặc tiền căn.

Ung thư vú thường bắt đầu với sự hình thành của khối u nhỏ, hoặc như lớp canxi (vôi rất nhỏ) và sau đó lây lan qua các kênh bên trong vú đến các hạch bạch huyết hoặc qua dòng máu đến các cơ quan khác. Khối u có thể phát triển và xâm lấn đến mô xung quanh vú, chẳng hạn như da hay thành ngực. Các loại khác nhau của ung thư vú phát triển và lây lan với tốc độ khác nhau – ung thư vú lan rộng ở một số người trong nhiều năm, nhưng lại phát triển và lây lan nhanh chóng với những người khác.

Một số cục u là lành tính (không ung thư) tuy nhiên chúng có thể trở thành tiền ác tính. Cách an toàn nhất để phân biệt giữa một khối u lành tính và ung thư là phải được bác sĩ kiểm tra thông qua sinh thiết.

Đàn ông có thể bị ung thư vú nhưng chỉ chiếm một phần trăm của tất cả các trường hợp ung thư vú. Đối với phụ nữ, ung thư vú là loại thường gặp nhất và là nguyên nhân thứ hai dẫn đến tử vong sau ung thư phổi.

Nếu tám phụ nữ sống được ít nhất đến 85 tuổi, một trong số họ sẽ phát triển bệnh tại một số thời điểm trong cuộc sống. Hai phần ba số phụ nữ bị ung thư vú là trên 50 và hầu hết phần còn lại là giữa 39 và 49.

May mắn thay, ung thư vú có thể được chữa khỏi nếu phát hiện sớm. Khối u không lan ra thường có thể được điều trị thành công trước khi lây lan thành ung thư; 9 trong số 10 trường hợp, người phụ nữ sẽ sống ít nhất 5 năm. Tuy nhiên, tình trạng tái phát muộn của bệnh ung thư vú là phổ biến.

Khi ung thư bắt đầu lây lan thì việc điều trị trở nên khó khăn mặc dù việc điều trị có thể được kiểm soát trong nhiều năm qua. Đi khám bác sĩ và điều trị có nghĩa là ít nhất 7 trong số 10 phụ nữ bị ung thư vú sẽ sống được hơn 5 năm sau chẩn đoán ban đầu và một nửa sẽ sống hơn 10 năm.

Nguyên nhân gây ra ung thư vú

Mặc dù nguyên nhân chính xác gây ra ung thư vú chưa rõ ràng, các yếu tố chính đã được xác định. 75% phụ nữ mắc bệnh ung thư vú không gặp các nguy cơ phổ biến. Trong số các yếu tố quan trọng nhất là tuổi tác và tiền sử gia đình. Nguy cơ này tăng nhẹ với người phụ nữ có một số khối u vú lành tính và tăng mạnh với người phụ nữ trước đây đã bị ung thư vú hoặc nội mạc tử cung, buồng trứng hoặc ung thư ruột kết.

Một người phụ nữ có mẹ, chị gái hay con gái đã bị ung thư vú có khả năng mắc bệnh nhiều hơn từ 2-3 lần, đặc biệt là nếu có nhiều hơn một người họ hàng đã bị ảnh hưởng. Bệnh ung thư phát triển ở người phụ nữ đang ở tiền mãn kinh, hoặc nếu bệnh ung thư phát triển ở cả hai vú. Các nhà nghiên cứu đã xác định được hai gen gây ra một số trường hợp ung thư vú trong gia đình – BRCA1 và BRCA2. Khoảng 1 trong 200 phụ nữ mang một trong 2 gen này. Có gene BRCA 1 hay BRCA 2 làm cho nguy cơ bạn bị ung thư vú là 56% -85%. Những gen này cũng dẫn đến các bệnh ung thư buồng trứng và có liên quan với ung thư tuyến tụy, u ác tính và ung thư vú của nam giới (BRCA2).

Vì những rủi ro, phòng ngừa và hướng dẫn sàng lọc cho những người có gen BRCA là cần thiết. Những gen khác đã được xác định là làm tăng nguy cơ ung thư vú, bao gồm gen PTEN, gen ATM, các gene TP53 và gen CHEK2. Tuy nhiên, các gen này chứa đựng ít nguy hơn cho sự phát triển ung thư vú hơn các gen BRCA.

Nói chung, phụ nữ trên 50 tuổi có nhiều khả năng bị ung thư vú hơn những phụ nữ trẻ và phụ nữ Mỹ gốc Phi có nhiều khả năng hơn người da trắng bị ung thư vú trước khi mãn kinh.

Mối liên hệ giữa ung thư vú và kích thích tố đang dần trở nên rõ ràng hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng phụ nữ tiếp xúc nhiều với estrogen hormone càng dễ bị ung thư vú. Estrogen làm phân chia tế bào; càng có nhiều các tế bào phân chia, càng có nhiều khả năng bất thường và bị ung thư.

Sự tiếp xúc của người phụ nữ với estrogen và progesterone sẽ tăng và giảm trong cuộc đời. Điều này bị ảnh hưởng từ tuổi có kinh nguyệt và dừng lại khi mãn kinh, chiều dài trung bình của chu kỳ kinh nguyệt và tuổi khi sinh con lần đầu tiên. Nguy cơ của một người phụ nữ bị ung thư vú tăng lên nếu có kinh nguyệt trước 12 tuổi (nguy cơ ít hơn 2 lần), có đứa con đầu lòng sau 30 tuổi, ngừng kinh nguyệt sau 55 tuổi, hay cho con bú. Thông tin hiện tại về tác dụng của thuốc tránh thai và nguy cơ u-ng thư vú chưa rõ ràng. Một số nghiên cứu cho thấy rằng các kích thích tố trong thuốc tránh thai có thể không làm tăng nguy cơ ung thư vú hoặc bảo vệ chống lại bệnh ung thư vú. Tuy nhiên các nghiên cứu khác cho thấy nguy cơ ung thư vú tăng lên ở những phụ nữ đã uống thuốc tránh thai, bất kể dùng bao lâu.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng liệu pháp thay thế hormone estrogen kết hợp với và các hợp chất có chứa progesterone làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Họ cũng cho thấy, sau 7 năm theo dõi, việc chỉ sử dụng estrogen không làm tăng hoặc giảm nguy cơ phát triển ung thư vú. Tuy nhiên sử dụng chúng có thể làm tăng nguy cơ bị đông máu.

Liều cao của bức xạ, chẳng hạn như tiếp xúc với hạt nhân, xạ trị liệu được dùng để chữa trị bệnh u cho Hodgkin, là nguyên nhân phát triển ung thư vú sau 15-20 năm. Nhũ ảnh (kỹ thuật chụp X quang đặc biệt dành cho tuyến vú) không có gây ra nguy cơ phát triển ung thư vú.

Mối liên hệ giữa chế độ ăn và ung thư vú đã được tranh luận. Béo phì là một nguy cơ đáng chú ý, chủ yếu ở phụ nữ sau thời kì mãn kinh vì béo phì làm thay đổi chuyển hóa estrogen ở phụ nữ. Uống rượu thường xuyên – đặc biệt hơn một ly một ngày – cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất béo từ thịt đỏ hoặc sữa có lượng chất béo cao có nhiều khả năng mắc bệnh. Nếu một người phụ nữ làm giảm lượng calo hàng ngày của mình từ chất béo – ít hơn 20-30% – từ chế độ ăn uống của mình có thể giúp bảo vệ cô khỏi bệnh ung thư vú.